Ra đời cách đây ba phần tư thế kỷ, Phóng sự "Việc làng" giới thiệu với bạn đọc nhất là thế hệ trẻ và với độc giả ở các vùng miền khác trong cả nước ta về "cuộc đời và con người trong bức tranh làng quê Bắc Bộ".
Phóng sự Việc làng chứa đựng một khối lượng kiến thức sâu rộng, được ghi lại rất cụ thể, rành mạch, lôi cuốn bạn đọc đi từ ngạc nhiên này đến bất ngờ khác rất chi tiết về bộ mặt nông thôn với hàng loạt "phong tục, hủ tục" diễn ra liên miên dai dẳng trong đời sống và xã hội dân quê cách đây non một thế kỉ.
Việc làng còn thuật lại các "phong tục" có ý nghĩa tốt đẹp về "sự gắn bó của dân với làng", về tục "vào ngôi" khi con trẻ ra đời, về lễ nghi khi có người qua đời, về lễ "thượng điền", về nghệ thuật ẩm thực hoặc một số công việc cần cù trong tập quán làm lúa nước, chăn nuôi gia cầm...
Trải qua biết bao biến đổi, "Việc làng" vẫn còn ý nghĩa lớn và để lại nhiều bài học có giá trị trong quá trình chọn lọc, cải biến và xây dựng đời sống văn hoá mới trong xã hội nông thôn hiện nay.
Thông tin tác giả
Nhà văn NGÔ TẤT TỐ (1893-1954) sinh tại làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là Lộc Hà, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội), mất tại Yên Thế, Bắc Giang (nay là thị trấn Phồn Xương, tỉnh Bắc Ninh). Ông thường xuyên có mặt trên các báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo, Hà Nội tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba,… với nhiều bút danh: Lộc Hà, Phó Chi, Thôn Dân, Khẩu Khiết Nhi, Xứ Tố, Lộc Đình, Thục Điểu, Tuệ Nhỡn, Đạm Hiên, Thuyết Hải, Xuân Trào, Hy Cừ… Ông từng đảm nhiệm cương vị Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam khóa I...
Giải thưởng:
- Giải ba về dịch thuật (tác phẩm Trời hửng, Trước lửa chiến đấu), giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam.
- Giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác) giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam.
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I, năm 1996.
Các tác phẩm chính:
- TIỂU THUYẾT: Trong rừng Nho (1937), Tắt đèn (1937).
- TRUYỆN KÝ: Đề Thám (viết chung, 1935), Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (1935).
- PHÓNG SỰ: Tập án cái đình (1939), Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, báo Thời vụ, 1939-1940), Việc làng (báo Hà Nội tân văn, 1940-1941).
- DỊCH: Ngô Việt Xuân Thu (1929), Hoàng Hoa Cương (1929), Thơ và tình (thơ Trung Quốc, 1940), Đường thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940), Hoàng Lê nhất thống chí (tiểu thuyết lịch sử, 1942-1956), Suối thép (1946), Trước lửa chiến đấu (1946), Trời hửng (1946), Duyên máu (1946), Doãn Thanh Xuân (1946-1954).
- NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN: Phê bình “Nho giáo” của Trần Trọng Kim (1940), Thi văn bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941), Văn học đời Lý (tập I) và Văn học đời Trần (tập II - trong bộ Việt Nam văn học, 1942), Lão Tử (biên soạn chung, 1942), Mặc Tử (biên soạn, 1942), Kinh dịch (chú giải, 1953).
- KỊCH: Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (kịch bản chèo, 1951).