"... Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc. Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi không tên. Đọc thơ Nguyễn Duy thấy anh hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình. Cái điều ở người khác có thể chỉ là chuyện thoảng qua thì ở anh, nó lắng sâu và dường như đọng lại..." - Hoài Thanh (Báo Văn nghệ, ngày 14.4.1972)
“Xây dựng thế giới nhân vật không phải là công việc nhất thiết của một thi sĩ trữ tình. Điều căn bản là bộc lộ cái tôi của mình. Tuy nhiên, cái tôi ấy chỉ thực sự được phơi trải khi gặp đối tượng của nó. Cho nên nhân vật trong thơ trữ tình vừa là đối tượng khách thể vừa như những đối ảnh, những hóa thân, hiện thân khác nhau của cái tôi thi sĩ. Cái thế giới mà Nguyễn Duy dựng nên suốt cả nghiệp thơ của mình, hoàn toàn có thể coi là cõi chúng sinh thì hiện tại: binh lửa và bụi bặm, bùn nước và gió trăng, nghèo đói và tiềm năng, tàn phá và gây dựng, xơ xác và nhen nhóm, bần bách và phù hoa... mà đâu đâu cũng là mồ hôi và nước mắt. Có ngẫu nhiên đâu, khi ở đó, nhân loại nhân vật của thi sĩ này hầu hết là thảo dân! Họ là thập loại chúng sinh thì hiện tại.” - Chu Văn Sơn
“Cái bình thường trong cái bình thường của thơ Duy có thể đứng được là nhờ nó có giá trị tự thân, và giá trị tự thân ấy là ở triết lý dân gian, mà dân gian ở Việt Nam đồng nghĩa với dân tộc, nhân loại. Triết lý dân gian không vón cục mà tan vào đời sống như không khí. Và, cũng như không khí, nó quen thuộc đến mức không ai để ý đến sự tồn tại của nó cho đến khi thiếu nó không thở được. Nguyễn Duy biết sáng tạo ra những trường hợp thơ yếm khí, yếm triết để đưa dưỡng khí triết lý dân gian vào. Người đọc, vì thế, thấy thơ Duy vừa quen vừa lạ. Quen vì hình như đã từng nghe, từng biết ở đâu đấy, lạ vì nó trình hiện trong hình âm vóc chữ thơ Duy.” - Đỗ Lai Thúy