Ra đời trong bối cảnh sử học Việt Nam vẫn còn bị chi phối bởi lối chép sử theo niên đại và triều vua, “Việt sử khảo lược” của Tôn Thất Dương Kỵ là một nỗ lực táo bạo nhằm mở ra một cách nhìn hiện đại, logic và có hệ thống hơn về tiến trình phát triển của dân tộc. Cuốn sách không bao quát toàn bộ lịch sử Việt Nam, mà chỉ đi sâu từ thời Lê Lợi khởi nghĩa đến hết triều Tây Sơn (1802). Tác giả không kể lại lịch sử bằng danh sách vua chúa hay mốc thời gian, mà đi sâu vào những sự kiện, mối quan hệ nhân-quả, những động lực thực sự đã định hình vận mệnh quốc gia.
Bằng tư duy biện chứng, Tôn Thất Dương Kỵ nhìn lịch sử như một dòng chảy tương tác giữa con người và hoàn cảnh, giữa kinh tế, xã hội và tư tưởng. Ông chia lịch sử Việt Nam thành các thời kỳ dựa trên sự biến đổi của đời sống xã hội và văn hóa, thay vì rập khuôn theo phương pháp truyền thống. Giọng văn của ông súc tích, giàu tính phân tích, lại vừa thẳng thắn, thể hiện tư duy độc lập và tinh thần học thuật sắc sảo của một học giả Việt Nam giữa thế kỷ 20.
Không chỉ là một công trình khảo cứu, “Việt sử khảo lược” còn là lời mời gọi người đọc nhìn lại lịch sử dân tộc để hiểu sâu hơn về tiến trình phát triển của đất nước, đồng thời nhận ra trong từng giai đoạn lịch sử ấy là tinh thần kiên cường, sự linh hoạt và óc sáng tạo đã làm nên bản sắc Việt.
Trích dẫn sách Việt Sử Khảo Lược - Tôn Thất Dương Kỵ
“Nhưng, nếu ta nhìn lịch sử Việt Nam về một khía [khía cạnh] khác linh động hơn, ít máy móc hơn, thì ta sẽ thấy một bài học đích đáng cho cả nhân loại, nhất là gương sức sống dồi dào mãnh liệt của dân tộc ta, lập quốc trên một mảnh đất co hẹp, luôn luôn làm mới cho thiên tai, tiếp giáp nước Trung Hoa to lớn, thế mà không chim đắm trong bể người Trung Hoa như nhiều dẫn tộc khác, lại còn dư sức để dồn lại đuổi dài một văn hóa xán lạn huy hoàng, hiện nay còn làm hãnh diện ngót mấy trăm triệu người và lúc trước đã ngự trị vững vàng trên các miền Đông, miền Nam Á châu cùng các quần đảo tiếp cận: tôi muốn nói văn hóa Ấn Độ.
Trong cuốn sách nhỏ này, tôi lại không trình bày một chuỗi vua chúa, mà cố ý tìm những nhân và quả, những mối hệ thuộc giữa nhân và quả của mọi biến thiên, nghĩa là cắt nghĩa các biến thiên ấy vậy. Gặp ông vua nào không quan hệ đến vận mệnh nước nhà (như các vua Lê sau khi nhà Hậu Lê trung hưng ) thì tôi cho họ lu mờ cũng như họ đã sống một cách lu mờ lúc sinh thời, nghĩa là không nói đến, hoặc nói qua thôi. Cho nên độc giả sẽ không tìm thấy lịch sử từng triều đại, từng tay anh hùng mà chỉ thấy những việc sắp đặt theo từng loại: kinh tế, chính trị, xã hội, trí thức, ngoại giao, chiến tranh, v.v..”.
Mục lục sách Việt Sử Khảo Lược - Tôn Thất Dương Kỵ
Đội lời nói đầu
Lược luận lịch sử Việt Nam
PHẦN 1: ĐỘC LẬP - THỐNG NHẤT - BẮC CỰ - NAM TIẾN PHỤC HƯNG
- 1. MINH THUỘC
- 2. MƯỜI NĂM KHÁNG MINH (1418-1427)
- 3. NỘI BỘ ĐẠI VIỆT VỀ THẾ KỶ 15
- 4. THANH THẾ CỦA ĐẠI VIỆT VỀ THẾ KỶ 15
PHẦN 2: CUỘC THỐNG NHẤT TAN RÃ TIẾP TỤC VIỆC NAM TIẾN
- 5. NHỮNG NỖI ĐAU KHỔ CỦA ĐẠI VIỆT VỀ NỬA ĐẦU THẾ KỶ 16
- 6. ĐẠI VIỆT CHIA HAI LẦN THỨ NHẤT: MẠC, TRỊNH (1533-1600)
- 7. ĐẠI VIỆT CHIA BA: TRỊNH, MẠC, NGUYỄN (1600-1677)
- 8. ĐẠI VIỆT LẠI CHIA HAI: TRỊNH, NGUYỄN (1677-1773) ĐÀNG NGOÀI DƯỚI CHÚA TRỊNH
- 9. ĐẠI VIỆT LẠI CHIA HAI: TRỊNH, NGUYỄN (1677-1773) ĐÀNG TRONG DƯỚI THỜI CHÚA NGUYỄN
- 10. ĐẠI VIỆT TIẾP XÚC VỚI TÂY PHƯƠNG
- 11. ĐẠI VIỆT ANH DŨNG VÀ ĐAU KHỔ VỀ NỬA SAU THẾ KỶ 18 (Đoạn thứ nhất)
- 12. ĐẠI VIỆT ANH DŨNG VÀ ĐAU KHỔ VỀ NỬA SAU THẾ KỶ 18 (Đoạn thứ nhì)
- 13. ĐẠI VIỆT ANH DŨNG VÀ ĐAU KHỔ VỀ NỬA SAU THẾ KỶ 18 (Đoạn thứ ba và chót)
- 14. ĐẠI VIỆT CHIA HAI (1793- 1802)