Giới thiệu sách
Bảy Đại Tội - Sinh Học Của Bản Tính Con Người - Guy Leschziner
“Bảy đại tội - sinh học của bản tính con người” - Giải mã những điều sâu kín nhất trong con người bằng khoa học thần kinh và được Financial bình chọn là cuốn sách hay nhất năm.
Vì sao có người không thể kiểm soát cơn giận? Vì sao có những người luôn bị thôi thúc bởi thức ăn, tình dục, tiền bạc hoặc quyền lực? Điều gì khiến một người bình thường trở nên bạo lực, ích kỷ hoặc ám ảnh cực đoan?
Trong “Bảy đại tội - Sinh học của bản tính con người”, Giáo sư thần kinh học Guy Leschziner dẫn dắt người đọc vào một hành trình khám phá những khía cạnh như tình dục, giết người, ngoại tình, tội phạm và bạo lực của con người. Những mặt này của bản chất con người không tồn tại đơn lẻ. Chúng được dệt lại với nhau bằng những sợi chỉ bền chắc của di truyền học, tâm lý học tiến hóa và bệnh học. Chính những khía cạnh sinh học ấy của con người đã định hình nên những động lực in dấu không thể xóa nhòa trong quá trình chúng ta kiến tạo thế giới của mình, đồng thời đặt nền tảng căn bản cho những hành vi ấy cũng như những lỗi lầm khác.
Cuốn sách có gì đặc biệt?
- Khám phá Bảy mối tội đầu nổi tiếng trong văn hóa phương Tây bằng lăng kính khoa học thần kinh.
- Dựa trên những ca bệnh có thật liên quan đến chấn thương não, động kinh, khối u, đột biến gen và tác dụng phụ của thuốc.
- Giải thích các hành vi như bạo lực, ngoại tình, nghiện tình dục, tham ăn, ghen tuông, lòng tham hay chứng ái kỷ bằng các cơ chế sinh học trong não bộ.
- Kết hợp kiến thức từ thần kinh học, di truyền học, tâm lý học tiến hóa và y học lâm sàng.
- Văn phong gần gũi, giàu tính kể chuyện, dễ tiếp cận với độc giả đại chúng.
Những câu hỏi hấp dẫn mà cuốn sách đặt ra
- Một người trở nên hung hăng sau chấn thương não có hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của mình không?
- Lòng tham là lựa chọn cá nhân hay là một cơ chế sinh tồn được lập trình từ quá trình tiến hóa?
- Vì sao có người dễ nổi nóng, trong khi người khác lại bình tĩnh trước cùng một tình huống?
- Điều gì khiến một số người rơi vào trạng thái ghen tuông hoặc ái kỷ cực đoan?
- Ranh giới giữa "kẻ xấu" và "người bệnh" thực sự nằm ở đâu?
Bố cục cuốn sách
Cuốn sách gồm 8 chương, được xây dựng như một hành trình đi từ những hành vi quen thuộc trong đời sống đến câu hỏi lớn nhất về con người.
Phần 1: Giải mã Bảy đại tội
- Thịnh nộ
- Tham ăn
- Dục vọng
- Ganh tị
- Lười biếng
- Lòng tham
- Kiêu ngạo
Ở mỗi chương, tác giả kể những câu chuyện có thật về các bệnh nhân với những thay đổi bất thường trong hành vi, từ đó giải thích vai trò của các vùng não, hormone và yếu tố di truyền đứng sau những biểu hiện tưởng chừng chỉ thuộc về đạo đức.
Phần 2: Ý chí tự do
Sau khi phân tích bảy đại tội, tác giả đặt ra câu hỏi trung tâm:
Nếu hành vi của con người bị chi phối mạnh mẽ bởi cấu trúc não bộ, gen và môi trường sống, liệu chúng ta có thực sự sở hữu ý chí tự do?
Đây cũng là phần sâu sắc nhất của cuốn sách khi mở rộng cuộc thảo luận sang các vấn đề về công lý, trách nhiệm cá nhân và cách xã hội nhìn nhận tội lỗi.
Bìa sách sử dụng hình ảnh con rắn và quả táo - biểu tượng quen thuộc trong câu chuyện Adam và Eva của Kinh Thánh. Theo truyền thuyết, việc ăn trái cấm giúp con người có được tri thức để phân biệt thiện - ác, nhưng cũng mở đầu cho những đau khổ và sai lầm của nhân loại. Hình ảnh này chính là ẩn dụ cho chủ đề trung tâm của cuốn sách: hành trình tìm hiểu nguồn gốc của những "tội lỗi" đã đi cùng con người từ thuở sơ khai, và câu hỏi liệu chúng bắt nguồn từ lựa chọn đạo đức hay từ chính bản chất sinh học của chúng ta.
Cuốn sách dành cho độc giả yêu thích: Khoa học thần kinh và tâm lý học, về bản chất con người, đạo đức và ý chí tự do, các câu chuyện khoa học được kể theo lối hấp dẫn, dễ đọc.
“Bảy đại tội - Sinh học của bản tính con người” không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bộ não, mà còn buộc mỗi người phải nhìn lại những điều tưởng như quen thuộc nhất ở chính mình: những ham muốn, cảm xúc, sai lầm và lựa chọn tạo nên con người hôm nay.
Trích đoạn sách
“Đây là một hành trình khám phá những khía cạnh như tình dục giết người, ngoại tình, tội phạm và bạo lực qua từng trang sách. Tuy nhiên, những mặt này của bản chất con người không tồn tại đơn lẻ. Chúng được dệt lại với nhau bằng những sợi chỉ bền chắc của di truyền học, tâm lý học tiến hóa và bệnh học. Chính những khía cạnh sinh học ấy của con người đã định hình nên những động lực in dấu không thể xóa nhòa trong quá trình chúng ta kiến tạo thế giới của mình, đồng thời đặt nền tảng căn bản cho những hành vi ấy cũng như những lỗi lầm khác.”
“Tội lỗi, bao gồm những cảm xúc và hành động bị quy là cội nguồn của mọi điều sai trái trong tôn giáo, thần học và triết học, đã góp công gây dựng nhưng cũng nhiều lần lật đổ các đế chế trên thế giới, châm ngòi cho bước chân xâm chiếm của loài ngoài đến mọi ngóc ngách trên Trái Đất và thậm chí vượt ra cả bên ngoài hành tinh này. Chính những tội lỗi này đã kiến tạo nên sự tiến hóa cũng như diệt vong của nhân loại. Chúng thúc đẩy việc tích lũy những khối tài sản khổng lồ, săn tìm tài nguyên, và cả những cuộc chiến tranh dai dẳng qua nhiều thế hệ. Dòng chảy thăng trầm của lịch sử loài người được định hình từ bảy đại tội (thường gọi là Bảy mối tội đầu): thịnh nộ, phàm ăn, dục vọng, ganh tị, lười biếng, tham lam và kiêu ngạo. Giận dữ, cuồng nộ châm ngòi cho các cuộc cách mạng lật đổ, còn lòng tham kiến tạo lại thế giới. Lười biếng dẫn đến sự sụp đổ của các đế chế, đố kỵ lại góp phần gây dựng đế chế mới. Dục vọng khiến cho chính trị gia ngã ngựa, phản bội bí mật quốc gia; phàm ăn vô độ có thể hủy hoại môi trường còn kiêu ngạo là nguyên nhân châm ngòi vô vàn xung đột.”
“Tôi không nghĩ rằng thế hệ của cha mẹ tôi hay của chính tôi đã hoàn toàn thoát khỏi nỗi đau thương mà thế hệ ông bà tôi đã phải gánh chịu, như hiện thân tột cùng của tội lỗi con người. Nỗi đau đó vẫn tiếp diễn trong trạng thái bi quan bị kìm nén, trong nỗi sợ hãi, nỗi lo âu âm ỉ trước những điều có thể xảy ra, hay sự bất định của tương lai. Nhiều người đã chia sẻ về tâm thế luôn xếp sẵn một chiếc vali trong nhà của người nhập cư. Để phòng thân. Để chuẩn bị cho thời điểm lịch sử lặp lại, khi sự xấu xa đen tối của loài người lại trỗi dậy một lần nữa. Tôi đã cảm nhận điều này rất mạnh mẽ từ khi còn nhỏ. Tôi có thể thổ lộ được đôi chút trong những mẩu chuyện nhỏ với cha mẹ, ông bà, nhưng phần lớn tâm sự của tôi vẫn được thấu hiểu mà không cần phải nói thành lời.”
“Mối quan tâm của thần học và triết học đối với tội lỗi là rất phổ biến, vượt qua giới hạn thời gian, không gian và văn hóa, đủ để minh chứng rằng những tư tưởng và hành vi này tồn tại khắp mọi nơi. Những tội lỗi này đã được lập trình sẵn trong tất cả chúng ta, ăn sâu vào những góc khuất của não bộ, ẩn nấp trong bản chất sâu xa nhất của linh hồn. Và việc các tội lỗi này ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử nhân loại cũng như cơ cấu tổ chức của xã hội loài người hiện nay cho thấy bản chất nhị nguyên của chúng – có lẽ các “tội lỗi” này cũng có lợi. Suy xét lại, nếu những hành vi này chỉ đơn thuần là tác nhân gây hại, thì vì sao chúng lại có thể trở thành những sợi tơ dệt nên tấm thảm bản thể của chúng ta? Hà cớ gì những đặc điểm gây hại này lại có thể được truyền từ đời này sang đời khác, xuyên suốt quá trình tiến hóa của sự sống như chúng ta biết ngày nay?”
“Câu hỏi đặt ra là, liệu những cảm xúc và hành vi ấy khi bị đẩy đến cực độ có phải là tội lỗi không, hay chúng chỉ đơn thuần phản ánh một động lực sinh tồn bẩm sinh. Và suy cho cùng, đâu là ranh giới giữa trạng thái bình thường, bệnh lý và tội lỗi của con người.”
“Trong các cảm xúc tiêu cực của con người, giận dữ là một trường hợp khá đặc biệt. Không giống như những cảm xúc như buồn bã, sợ hãi, hay ghê tởm luôn lái chúng ta ra khỏi sự kích động, cơn giận lại đẩy chúng ta tiến về phía nó. Để đối mặt, để chiến đấu.”
"Khi không được kiểm soát và điều tiết, cơn giận có thể gây ra thiệt hại, hoặc vì cường độ cảm xúc quá mãnh liệt như trong cơn giận, hoặc vì nó bộc lộ thành hành vi bạo lực. Tuy vậy, giận dữ cũng vẫn có nhiều mặt tích cực khá rõ.”
“Vì vậy, ở chừng mực nào đó, mức độ hung hăng của con người là một phần của di truyền. Khuynh hướng bạo lực của chúng ta, ở mức độ nào đó, là món quà do cha mẹ ban tặng, cũng như màu tóc hay dáng mũi vậy. Nhưng những yếu tố di truyền này, đặc biệt là những yếu tố đã được nhận diện, chỉ là một mảng nhỏ của bức tranh toàn cảnh. Như ở mọi lĩnh vực của sinh học, ở đây cũng đặt ra câu hỏi về bẩm sinh và nuôi dưỡng. Cha mẹ chúng ta cũng góp phần định hình tính cách chúng ta theo nhiều cách khác chứ không chỉ qua gene.”
“Nếu chính là sự tiến hóa, hay Thượng đế, tùy theo cách nhìn của bạn, tôi chắc chắn sẽ ủng hộ thúc đẩy các gene vừa có thể điều khiển cơ thể tích trữ chất béo và năng lượng càng nhiều càng tốt mỗi khi có thực phẩm dồi dào, vừa có thể sử dụng năng lượng từ thức ăn hiệu quả nhất có thể. Những gene này được xem là một khoản vay vượt định mức trong thời kỳ đói kém, một phương án dự phòng để chống chọi với những giai đoạn khan hiếm lương thực. Thế nhưng, những gene này cũng có thể gây béo phì, hoặc các bệnh khác như tiểu đường, cao huyết áp, hay các bệnh do béo phì gây ra. Điều này làm giảm lợi thế sinh tồn của các gene đó trong thời kỳ thịnh vượng. Đặc điểm di truyền thúc đẩy quá trình chuyển hóa hiệu quả là một lợi thế sinh tồn đáng kể đối với tổ tiên của chúng ta, để dễ tăng cân hơn và sống sót qua nạn đói. Trong thời kỳ no ấm dư dả của chúng ta hiện nay, vốn chỉ là một khoảnh khắc chớp nhoáng trong quá trình tiến hóa của loài người, một (hoặc nhiều) gene di truyền này đã gây ra béo phì và tiểu đường. Phải chăng, chính sự kế thừa của các gene thúc đẩy tích trữ năng lượng - “gene tích trữ” - là nguyên nhân gây ra đại dịch béo phì của chúng ta ngày nay?
Giả thuyết này nghe rất hợp lý, nhưng bằng chứng cho thấy sự tồn tại của gene tích trữ lại vô cùng ít ỏi. Quan điểm này do đó đã phải hứng chịu rất nhiều chỉ trích gay gắt.16 Thứ nhất, từ cơ sở nhân học, quần thể người dân đảo Thái Bình Dương, cũng như nhiều quần thể có tỉ lệ béo phì và tiểu đường rất cao khác, không hề có lịch sử đói kém hay khan hiếm lương thực. Các hòn đảo nhiệt đới nằm giữa các vùng biển ấm đầy cá, chính là nguồn cung cấp năng lượng dồi dào và dễ tìm. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần phải lưu ý đến một giả thuyết, là các quần thể này đã có đủ thời gian tiến hóa để gene của họ có thể thích nghi với môi trường sinh thái mới, kể từ khi di cư khỏi châu Phi.”
“Có lẽ áp lực tiến hóa lên thể trọng của tổ tiên chúng ta không chỉ đến từ nạn đói. Cơ thể không được gầy quá, để còn vượt qua được thời kỳ đói kém, nhưng cũng không được quá béo, để kịp chạy thoát thân khỏi những kẻ săn mồi luôn rình rập ăn thịt chúng ta.17 Trước những tranh luận về việc liệu nạn đói có phải là một sức ép tiến hóa lớn đến như vậy hay không, một số nhà khoa học cho rằng nguy cơ bị săn mồi còn có ý nghĩa quan trọng hơn, và chính là yếu tố đã hạn chế thể trọng, để cơ thể không trở nên quá kềnh càng. Con người chúng ta đã có thể nắm giữ định mệnh của chính mình trước kẻ thù bằng vũ khí và lửa, do vậy hoàn toàn bù đắp được cho hạn chế về thể hình. Với gậy gộc và giáo mác, loài người có thể tồn tại và bớt phụ thuộc vào khả năng thoát thân khỏi kẻ săn mồi. Và dần dần việc có thân hình to lớn hay béo mập cũng không còn là bất lợi nữa. Những con người cao lớn, nếu lúc trước dễ có nguy cơ bỏ mạng dưới nanh vuốt của thú dữ, thì giờ đây vẫn sống sót và còn sinh sôi nhiều hơn. Kết quả là, những gene này dần dần lan rộng hơn trong quần thể người.”
“Theo Kinh Thánh, trong mắt Chúa, việc khao khát một người không phải là bạn đời là tội lỗi. Xã hội hiện đại dường như có một quan điểm bao dung hơn về dục vọng: một ham muốn tình dục dâng lên đến mức có thể gây hại cho bản thân hoặc những người xung quanh.”
“Thay vì thắc mắc tại sao lại có dục vọng, câu hỏi hợp lý hơn là vì sao con người chúng ta nên hình thành cơ chế kiểm soát bản năng tình dục, các cơ chế có thể khống chế những ham muốn lệch lạc rõ ràng như của Simon và các bệnh nhân khác của bác sĩ Jarvie. Có chắc rằng càng quan hệ nhiều, càng ngủ với nhiều người, chúng ta càng tăng cơ hội sinh sản hay không?”
“Ưu tiên tiến hóa cho nam giới là đảm bảo một người đàn ông có nhiều con, và con cái sinh ra khỏe mạnh nhất có thể. Chiến lược ngủ với càng nhiều phụ nữ càng tốt, làm cho nhiều phụ nữ mang thai nhất có thể, chắc chắn có thể tăng số lượng con cái của một người. Nhưng nếu đàn ông không thể với tới những người phụ nữ có giá trị di truyền cao bằng phương pháp “bắn nhiều mục tiêu” này, họ có thể đổi chiến thuật. Nếu những người phụ nữ cao giá này đòi hỏi cam kết lâu dài, người đàn ông có thể chuyển hướng theo.
Vậy đàn ông xác định những người phụ nữ có giá trị sinh sản cao, những người có bộ gene khỏe mạnh và có khả năng sinh sản bằng cách nào?”
“Độ lệch chiều dài ngón tay liên quan đến rất nhiều đặc điểm của con người, ví dụ như trí thông minh ngôn ngữ, trí thông minh toán học hay “tính cách dễ chịu”. Tỉ lệ này ở nam và nữ gắn với xu hướng tấn công trong một trò chơi mô phỏng chiến tranh, cũng như mức độ hiếu chiến sau khi xem một video ca nhạc có nội dung “gây chiến”. Độ lệch ngón tay cũng liên quan đến mức độ hung hăng và gây hấn nói chung, ít nhất là ở nam giới. Ngón áp út của một người càng dài hơn ngón trỏ, người đó càng dễ có xu hướng gây hấn.”
“Về mặt tiến hóa, đối với phụ nữ, lợi ích của một mối quan hệ lâu dài và ổn định rõ rệt hơn, xét đến thời gian và năng lượng họ phải dành cho việc mang thai và nuôi nấng con cái. Mối quan hệ lâu dài có thể là một nguồn lực tiềm năng. Xuyên suốt các nền văn minh cũng như tôn giáo, nữ giới quan tâm đến triển vọng tài chính của bạn tình/bạn đời nhiều hơn so với nam giới. Khi đánh giá đàn ông, phụ nữ để ý mức lương hơn gấp nghìn lần so với đàn ông khi đánh giá đối tượng kết đôi. Kể cả trong xã hội săn bắn hái lượm, khả năng cung cấp thực phẩm cũng là một tiêu chí quan trọng của phụ nữ khi lựa chọn bạn tình.”
“Thế còn nam giới thì sao? Có chắc thụ thai cho càng nhiều phụ nữ càng tốt, lấy số lượng làm ưu thế là cách tốt nhất để tối ưu hóa cơ hội duy trì nòi giống? Mệnh lệnh tiến hóa thúc đẩy quan hệ lâu dài thay vì những cuộc hẹn hò chớp nhoáng như hầu hết các loài động vật có vú trên thế giới là gì?”
“Đối với những tội lỗi khác, chúng ta phác họa các cơ chế bệnh lý hình thành nên suy nghĩ và hành vi, và phân biệt chúng với những đặc điểm tính cách có sẵn, dựa trên cường độ và hậu quả của bệnh. Với lòng tham, chúng ta không tiếp cận theo cách này. Nhưng lòng tham cũng giống như các tội lỗi khác, cũng là một hiểm họa khi đạt đến thái cực cao nhất, có thể gây hại cho cả cá nhân và toàn thể xã hội.”
“Có lẽ lòng tham chính là tấm gương phản chiếu các giá trị xã hội, hoặc trên thực tế chính là nền tảng của xã hội. Thế nên mặc dù chúng ta đều thừa nhận tham lam là xấu xa, nhưng ngay cả khi bùng lên đến cực điểm, lòng tham vẫn có thể trở thành động lực thúc đẩy sự khéo léo và tiến bộ của loài người, như một sức mạnh tiềm ẩn hướng tới sự tốt đẹp hơn của nhân loại.”
“Chắc chắn ở một mặt nào đó, giàu có đi liền với hạnh phúc. Tuy nhiên, bản thân thu nhập tuyệt đối dường như không ảnh hưởng gì đến hạnh phúc, một khi đã vượt qua một ngưỡng thấp nhất định. Gần như không tồn tại mối liên hệ nào giữa tổng sản phẩm quốc nội của một nước với mức độ hạnh phúc trung bình của người dân, dù so sánh giữa các nước hay nghiên cứu một quốc gia cụ thể theo thời gian. Ngược lại, có bằng chứng mạnh mẽ cho thấy, ở cấp độ cá nhân, sự giàu có tương đối của bạn so với những người xung quanh rõ ràng có liên quan đến đến cảm xúc khách quan về sự thịnh vượng và hạnh phúc.”
“Việc nuôi dạy con cái ngày nay rất khác. Với hầu hết những người thuộc thế hệ chúng ta, lớn lên vào những năm 1980 hoặc trước đó, tuổi thơ thật vô tư lự. Cha mẹ lo cơm ăn áo mặc cho chúng ta, đảm bảo chúng ta được an toàn, và nếu may mắn, họ còn dành thời gian cho chúng ta khi có thể. Ngày nay, chúng ta không thể được coi là đã hoàn thành trách nhiệm làm cha mẹ nếu không nắm tay con trong suốt chặng đường của chúng. Giờ đây, nhiều người tin rằng sự thành công và hạnh phúc của con cái phụ thuộc vào lòng tự trọng của chúng, và chúng ta, với vai trò là cha mẹ, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lòng tự trọng đó.
Những đứa trẻ lớn lên bằng cách nuôi dạy này dường như được hưởng lợi. Tôi thấy được điều ấy trong những sinh viên y khoa của mình: những người trẻ tuổi đầy ấn tượng, thậm chí nhiều người còn khiến tôi phải ngưỡng mộ, mang theo mình sự tự chủ, tự tin và dũng cảm mà thế hệ tôi không bao giờ dám mơ tới. Những người trẻ này không bao giờ chấp nhận lối giảng dạy cũ, thứ nghi lễ hạ thấp và dọa dẫm của nền giáo dục y khoa kiểu xưa, không chấp nhận việc không bao giờ dám lên tiếng nếu không được hỏi, không dám ngắt lời hay đặt câu hỏi cho người hướng dẫn. Chúng ta không bao giờ dám nghi ngờ kết quả kiểm tra, phàn nàn về chất lượng dạy học hay việc bị người trên coi thường. Lòng tự trọng của họ, cảm giác về giá trị của bản thân, được thể hiện qua mối quan tâm đến việc cải thiện bản thân, phát triển cá nhân. Họ thể hiện sự mạnh mẽ trước nghịch cảnh, có khả năng đối mặt với thất bại hoặc kết quả không như ý, biết cách tự đứng lên và tiếp tục. Họ nhìn nhận rõ khả năng của bản thân, tự biết được khi nào mình thể hiện xuất sắc hay làm ăn dở tệ.”
“Nếu ta tin rằng não bộ là nguồn gốc của tính cách và phẩm chất, là nền tảng cho các quyết định, dù tốt hay xấu, vậy ta cũng có thể lập luận rằng phần lớn những gì định hình nên chúng ta đều nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Chúng ta không thể chọn cha mẹ, vì thế không thể tác động lên gene di truyền hay quá trình nuôi dạy thời thơ ấu. Cũng tương tự vậy, những thăng trầm của cuộc sống thường cuốn trôi chúng ta, thay vì để chúng ta mạnh mẽ bơi theo ý muốn.
Nhưng nếu chúng ta đều thụ động đứng ngoài hành động của bản thân, vậy trách nhiệm sẽ ra sao? Liệu chúng ta có phải chịu trách nhiệm cuối cùng cho thứ bản thân có ít hay thậm chí không có chút quyền kiểm soát nào? Không thể tự do chọn lựa con đường, không thể chọn chiều theo thịnh nộ, phàm ăn, dục vọng, ganh tị, lười biếng, tham lam hay kiêu ngạo, vậy những suy nghĩ hay hành vi này còn có thể đại diện cho giá trị đạo đức cá nhân hay không?”
“Có thể khoa học thần kinh, triết học và thậm chí cả vật lý lượng tử sẽ cho chúng ta những câu trả lời rõ ràng hơn trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ tới – có thể lắm chứ. Tuy nhiên, trong lúc này, việc đánh giá một người là tốt hay xấu vẫn còn nhiều điều chưa rõ ràng. Liệu giá trị đạo đức của một người có thực sự được định nghĩa bởi một tai nạn, một loại thuốc, một đột biến gene ngẫu nhiên hay những ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển của não bộ? Có rất nhiều yếu tố sinh học dẫn dắt một người đến vạch đích cuối cùng của họ.”
Thông tin tác giả Guy Leschziner
Guy Leschziner: Giáo sư chuyên ngành thần kinh học và y học giấc ngủ tại Hệ thống Bệnh viện Guy’s and St Thomas’, đồng thời công tác tại Viện Tâm thần học, Tâm lý học và Khoa học Thần kinh thuộc King’s College London. Ngoài Bảy đại tội, ông còn là tác giả của nhiều bài báo và đầu sách có giá trị học thuật cao, tiêu biểu như The Nocturnal Brain - Nightmares, Neuroscience, The Secret World of Sleep (Bộ não về đêm - Ác mộng, khoa học thần kinh, thế giới bí mật của giấc ngủ) và The Man Who Tasted Words (Người đàn ông nếm thử vị ngôn từ). Ông cũng là người dẫn chương trình cho ba loạt phóng sự về khoa học thần kinh phát sóng trên BBC Radio 4 và World Service.
Sách Bảy Đại Tội - Sinh Học Của Bản Tính Con Người - Guy Leschziner của tác giả Guy Leschziner, có bán tại Nhà sách online NetaBooks với ưu đãi Bao sách miễn phí và Gian hàng NetaBooks tại Tiki với ưu đãi Bao sách miễn phí và tặng Bookmark