“Tần ngần, nàng chống tay vào khung cửa sổ, vơ vẩn nhìn trời, nhìn mây, nhìn những ngọn cỏ lơ thơ ở bờ hồ bên kia, để cân nhắc thêm một lần nữa, xem những ý nghĩ vừa rồi có đúng hay không đúng. Nàng thấy những thứ lễ nghi, chế độ của những ông thánh, ông hiền đặt ra cho đàn bà con gái, rặt là những cái xiềng xích.
[…]
Rồi nàng quả quyết:
– Không cần! Muốn gì thì gì, ta cứ sống bằng ý muốn của ta, ta không sống theo sở thích của người. Bắt đầu từ nay, ta thử phá hết những cái đạo đức giả dối, chơi với ông thánh, ông hiền một mẻ xem sao.”
***
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn.
Trơ cái hồng nhan với nước non,
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế, khuyết hay tròn,
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn,
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con.
TỰ TÌNH (II)
HỒ XUÂN HƯƠNG
Thông tin tác giả
Nhà văn NGÔ TẤT TỐ (1893-1954) sinh tại làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là Lộc Hà, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội), mất tại Yên Thế, Bắc Giang (nay là thị trấn Phồn Xương, tỉnh Bắc Ninh). Ông thường xuyên có mặt trên các báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo, Hà Nội tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba,… với nhiều bút danh: Lộc Hà, Phó Chi, Thôn Dân, Khẩu Khiết Nhi, Xứ Tố, Lộc Đình, Thục Điểu, Tuệ Nhỡn, Đạm Hiên, Thuyết Hải, Xuân Trào, Hy Cừ… Ông từng đảm nhiệm cương vị Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam khóa I...
Giải thưởng:
- Giải ba về dịch thuật (tác phẩm Trời hửng, Trước lửa chiến đấu), giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam.
- Giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác) giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam.
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I, năm 1996.
Các tác phẩm chính:
- TIỂU THUYẾT: Trong rừng Nho (1937), Tắt đèn (1937).
- TRUYỆN KÝ: Đề Thám (viết chung, 1935), Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (1935).
- PHÓNG SỰ: Tập án cái đình (1939), Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, báo Thời vụ, 1939-1940), Việc làng (báo Hà Nội tân văn, 1940-1941).
- DỊCH: Ngô Việt Xuân Thu (1929), Hoàng Hoa Cương (1929), Thơ và tình (thơ Trung Quốc, 1940), Đường thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940), Hoàng Lê nhất thống chí (tiểu thuyết lịch sử, 1942-1956), Suối thép (1946), Trước lửa chiến đấu (1946), Trời hửng (1946), Duyên máu (1946), Doãn Thanh Xuân (1946-1954).
- NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN: Phê bình “Nho giáo” của Trần Trọng Kim (1940), Thi văn bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941), Văn học đời Lý (tập I) và Văn học đời Trần (tập II - trong bộ Việt Nam văn học, 1942), Lão Tử (biên soạn chung, 1942), Mặc Tử (biên soạn, 1942), Kinh dịch (chú giải, 1953).
- KỊCH: Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (kịch bản chèo, 1951).