Giới thiệu sách
Thời Độ Và Đồng Thời - Henri Bergson
Henri Bergson là triết gia người Pháp, một nhân vật có ảnh hưởng lớn của triết học cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ông là giáo sư triết học tại Collège de France từ năm 1900 đến năm 1921 và nhận giải Nobel Văn chương năm 1927 (trao năm 1928). “Thời độ và đồng thời” là một trong những tác phẩm triết học quan trọng và gây nhiều tranh luận của thế kỷ 20. Cuốn sách ghi lại cuộc đối thoại tư tưởng giữa triết gia Henri Bergson và nhà vật lý thiên tài Albert Einstein, xoay quanh một câu hỏi nền tảng: thời gian thực sự là gì?
Trong “Thời độ và đồng thời”, Henri Bergson phân biệt hai khái niệm cốt lõi: “thời độ” và “thời gian của khoa học”. “Thời độ” là dòng chảy thời gian mà con người thực sự trải nghiệm - liên tục, không thể chia cắt, gắn với ý thức và ký ức. Ngược lại, khoa học phải “không gian hóa” thời gian để đo lường, biến nó thành các điểm rời rạc. Vì vậy, theo Bergson, đồng hồ không đo thời gian, mà chỉ đo chuyển động; “thời gian” trong khoa học thực chất là một quy ước toán học.
Từ đó, ông đối thoại với thuyết tương đối của Albert Einstein. Theo thuyết này, thời gian trôi khác nhau tùy theo chuyển động, như trong nghịch lý anh em sinh đôi. Tuy nhiên, Bergson cho rằng sự “chậm lại” của thời gian chỉ là kết quả tính toán theo hệ quy chiếu, giống như hiệu ứng phối cảnh, chứ không phải thời gian thực được sống. Ông khẳng định: chỉ có một thời gian thực duy nhất, còn “nhiều thời gian” trong vật lý chỉ là các biểu diễn toán học.
Cuốn sách cũng phê phán mô hình không - thời gian bốn chiều của Hermann Minkowski và Einstein, nơi quá khứ, hiện tại, tương lai cùng tồn tại như một “khối” cố định. Bergson phản đối quan điểm này vì nó phủ nhận tính sáng tạo và tự do. Ông bảo vệ một vũ trụ mở, nơi tương lai chưa được định sẵn mà luôn đang hình thành.
Thông qua sáu chương sách:
- Chương I: Bán - tương đối tính
- Chương II: Tương đối tính hoàn chỉnh
- Chương III: Về bản chất của thời gian
- Chương IV: Về tính đa bội của thời gian
- Chương V: Hình ánh sáng
- Chương VI: Không - thời gian bốn chiều
Nhận xét cuối: Thời gian của Tương đối tính hẹp và Không gian của Tương đối tính rộng
Dù các phát hiện thực nghiệm sau này đã chứng minh rằng hiện tượng giãn nở thời gian là có thật, tác phẩm của Bergson vẫn giữ nguyên giá trị triết học. Nó không nhằm phủ nhận khoa học, mà đặt ra một câu hỏi căn bản: liệu những gì khoa học đo lường được có đủ để phản ánh trọn vẹn trải nghiệm sống của con người hay không? Chính ở điểm này, cuốn sách trở thành một lời nhắc quan trọng về giới hạn của tư duy khoa học khi đối diện với đời sống.
Hình minh họa trên bìa được giản lược từ thí nghiệm Michelson-Morley, trong đó hai mặt đồng hồ thay cho hai tia laser để minh họa khái niệm “đồng thời”.
Cuốn sách nằm trong bộ sách gồm 2 cuốn “Tiến hóa sáng tạo” và “Thời độ và đồng thời” của tác giả Henri Bergson.
Trích dẫn sách Thời Độ Và Đồng Thời - Henri Bergson
“Chúng tôi đã đảm nhận nó chỉ để cho riêng mình. Chúng tôi muốn biết hình dung của chúng tôi về thời độ [durée] tương thích ở mức độ nào với cái nhìn của Einstein về thời gian. Sự ngưỡng mộ của chúng tôi đối với nhà vật lý ấy, niềm tin rằng ông mang lại cho chúng ta không chỉ một thứ vật lý mới mà còn cả những cách thức tư duy mới mẻ, ý tưởng rằng khoa học và triết học là những ngành khác biệt nhưng được tạo nên để bổ sung cho nhau, tất cả những điều này gợi lên cho chúng tôi niềm khao khát và thậm chí buộc chúng tôi có bổn phận tiến tới một cuộc đối mặt. Nhưng nghiên cứu của chúng tôi sớm cho thấy một mối quan tâm rộng hơn. Trên thực tế, hình dung của chúng tôi về thời độ thể hiện một trải nghiệm trực tiếp và tức thì. Tuy không dẫn tới như hệ quả tất yếu giả thuyết về một Thời gian phổ quát, nó hòa hợp với niềm tin này một cách rất tự nhiên. Vì thế, quan niệm chung của mọi người gần như chính là thứ mà chúng tôi sẽ đem ra để so với lý thuyết của Einstein.”
“Chúng tôi muốn thu vén mọi chuyển đổi giữa quan điểm tâm lý và quan điểm vật lý, giữa Thời gian theo lương tri và thời gian của Einstein. Để làm điều này, chúng tôi phải đặt mình lại vào trạng thái tâm trí sơ khởi, khi ta tin vào éther1 bất động, đứng yên tuyệt đối, nhưng vẫn phải diễn giải được thí nghiệm Michelson-Morley. Như vậy, chúng tôi sẽ thu được một hình dung nhất định về Thời gian bán-tương đối tính, chỉ ở một khía cạnh, chưa phải thời gian của Einstein, nhưng chúng tôi đánh giá là trọng yếu cần biết. Thuyết Tương đối có thể hoàn toàn không tính đến nó trong các suy luận thuần khoa học, tuy nhiên, thuyết ấy lại chịu ảnh hưởng, chúng tôi tin vậy, ngay khi rời địa hạt vật lý để trở thành một triết thuyết. Đối với chúng tôi, các nghịch lý, những điều đã khiến một số người khiếp sợ, và một số khác bị quyến rũ, dường như đến từ đó. Chúng gắn với một sự lập lờ. Chúng phát sinh từ việc hai trình hiện của Tương đối tính, một căn để và mang tính khái niệm, một được nới nhẹ và hình ảnh hóa, đồng hành trong tâm trí chúng ta mà ta không hay biết, và cũng phát sinh từ việc khái niệm chịu nhiễm hình ảnh.”
“Lúc cậu tách khỏi tôi, hệ của cậu đã dẹt lại, Thời gian của cậu thì phồng lên, các đồng hồ của cậu thì không còn thống nhất. Đây là các công thức hiệu chỉnh sẽ cho phép cậu trở về với thực tại. Cậu cần xem phải làm gì với chúng.”
“Bằng việc gọi là kế thời cái mà tôi từng gọi đồng thời, tôi sẽ có một thế giới không nhất quán, hoặc được dựng trên một bình diện hoàn toàn khác với của cậu. Vậy nên, mọi thứ và mọi mối tương quan giữa các thứ sẽ vẫn nên bảo toàn độ lớn, vẫn nằm trong các khuôn khổ cũ và tuân theo các quy luật cũ. Tôi do đó có thể làm như không chiều dài nào của tôi co lại, làm như Thời gian của tôi không giãn ra, làm như các đồng hồ của tôi thống nhất. Chí ít đây là những gì liên quan tới vật chất hữu trọng, cái mà tôi kéo theo cùng mình khi hệ của tôi chuyển động: Những thay đổi sâu sắc đã diễn ra trong các mối quan hệ thời gian và không gian mà các phần của nó duy trì với nhau nhưng tôi không nhận thấy và tôi không cần phải nhận thấy.”
“Chức phận của nhà siêu hình học hiện ra đối với chúng tôi thế này: Anh ta phải thâm nhập vào bên trong sự vật; và bản chất thật, thực tại sâu sắc của một chuyển động, không thể nào được vén lộ với anh ta tốt hơn so với khi mà bản thân anh ta thực hiện chuyển động, khi mà hẳn nhiên anh ta vẫn tri nhận nó từ bên ngoài như mọi chuyển động khác, nhưng hơn nữa còn nắm lấy nó từ bên trong như một nỗ lực mà chỉ có dấu vết là khả kiến. Có điều, nhà siêu hình học chỉ thâu nhận tri giác trực tiếp này, nội tại và chắc chắn, đối với các chuyển động mà bản thân anh ta thực hiện. Chỉ từ chúng anh ta mới có thể đảm bảo rằng đó là những thể động thực, những chuyển động tuyệt đối. Với các chuyển động thực hiện bởi các sinh thể khác, đó không phải là thông qua một tri giác trực tiếp, mà là thông qua sự giao cảm và những lý do mang tính loại suy mà anh ta nâng chúng lên thành thực tại độc lập. Và anh ta chẳng thể nói gì về chuyển động của vật chất nói chung, ngoại trừ việc có lẽ có những thay đổi bên trong, có thể tương tự hoặc không tương tự với những nỗ lực được thực hiện mà ta chẳng biết ở đâu và được thể hiện ra trước mắt ta như chính những thể động của ta qua sự dịch chuyển tương đảo của các vật thể trong không gian.”
“Vì thế, chúng ta không cần tính đến chuyển động tuyệt đối trong việc xây dựng khoa học: Giỏi lắm ta cũng chỉ biết nó xảy ra ở đâu, và ngay cả vậy, khoa học cũng chẳng biết phải làm gì với nó, vì nó là không thể đo đạc còn khoa học thì có chức năng đo đạc. Khoa học chỉ có thể và chỉ phải giữ lại từ thực tại những gì được trải bày trong không gian, đồng nhất, đo được, khả kiến. Chuyển động mà nó nghiên cứu do đó luôn tương đối và chỉ có thể ở trong một tính tương đảo của sự dịch chuyển.”
“[…]nếu mọi chuyển động là tương đối và nếu không có điểm mốc tuyệt đối, không có hệ ưu tiên, quan sát viên bên trong một hệ hiển nhiên không có bất cứ phương tiện nào để biết hệ của anh ta đang chuyển động hay đứng yên. Nói đúng hơn, anh ta sẽ sai khi tự hỏi điều đó, vì câu hỏi là vô nghĩa; nó không thể được đặt ra bằng từ ngữ như vậy. Anh ta tự do phán quyết theo ý mình: Hệ của anh ta sẽ là bất động, thậm chí từ định nghĩa, nếu anh ta coi nó là “hệ quy chiếu” và thiết lập ở đó mọi quan sát. Điều này không thể xảy ra, ngay cả trong trường hợp chuyển động thẳng đều, khi ta tin vào một éther bất động. Điều này cũng không thể xảy ra, theo mọi nhẽ, khi ta tin vào đặc tính tuyệt đối của chuyển động có gia tốc. Nhưng ngay khi ta rời bỏ hai giả thuyết ấy, thì bất kỳ hệ nào cũng sẽ đứng yên hay chuyển động tùy ý muốn của ta. Tất nhiên khi đã chọn rằng hệ này là bất động, ta phải nhất quán duy trì lựa chọn đó và xử lý các hệ khác cho phù hợp.”
““Các vật thể”, chúng tôi viết, “được xén ra từ miếng vải tự nhiên bởi một tri giác sở hữu cây kéo đi theo những đường nét đứt mà hành động sẽ diễn ra.” Ngành phân tích tâm lý nói như vậy. Và vật lý xác nhận điều đó. Nó phân giải vật thể thành một số lượng gần như vô hạn các hạt cơ bản; và cùng lúc, nó cũng cho ta thấy vật thể ấy liên kết với các vật thể khác thông qua cả ngàn hành động và phản ứng tương đảo. Như vậy, nó đưa vào vật thể quá nhiều tính gián đoạn, và mặt khác cũng thiết lập giữa vật thể và phần còn lại của các sự vật quá nhiều tính liên tục, đến mức ta đoán rằng phải có ở đó điều gì nhân tạo và mang tính quy ước trong sự phân bổ vật chất thành các vật thể của chúng ta. Nhưng nếu mỗi vật thể, bị cô lập và dừng lại ở nơi mà thói quen tri giác của ta kết thúc nó, phần lớn là một tạo vật của quy ước, thì làm sao lại không như vậy với chuyển động, được coi là ảnh hưởng lên mỗi vật thể một cách tách biệt?”
“Không nghi ngờ gì nữa, thời gian đối với chúng ta trước hết lẫn vào sự liên tục của đời sống bên trong ta. Sự liên tục ấy là gì? Là sự liên tục của một dòng chảy hay một sự đi qua, nhưng là dòng chảy và sự đi qua mà tự chúng đã đủ, dòng chảy không kéo theo thứ gì chảy và sự đi qua không tiền giả định những trạng thái mà ta đi qua: Thứ và trạng thái chỉ là những tức thời [instantané] được chụp một cách nhân tạo trên dòng chuyển dịch; và dòng chuyển dịch này, thứ duy nhất được trải nghiệm một cách tự nhiên, chính là thời độ. Nó là ký ức, nhưng không phải ký ức cá nhân, bên ngoài những gì nó lưu giữ, khác biệt với một quá khứ mà nó sẽ đảm bảo sự bảo tồn; nó là một ký ức bên trong chính sự thay đổi, ký ức kéo dài cái trước vào cái sau và ngăn chúng trở thành những tức thời thuần túy xuất hiện rồi biến mất trong một hiện tại tái sinh không ngừng. Một giai điệu, mà ta lắng nghe với đôi mắt nhắm và chỉ nghĩ về nó, gần như trùng với thời gian này, thứ vốn là sự trôi chảy của chính đời sống bên trong ta; nhưng nó vẫn còn quá nhiều phẩm tính, quá nhiều xác quyết, và ta cần xóa bỏ trước tiên khác biệt giữa các âm, rồi giải trừ các đặc tính riêng biệt của bản thân âm thanh, chỉ giữ lại đó sự tiếp nối của cái đi trước trong cái theo sau và sự chuyển dịch không gián đoạn, sự đa bội mà không phân chia và sự kế tiếp mà không phân cách, để cuối cùng tìm lại được thời gian căn bản. Đó là thời độ được tri nhận trực tiếp, thứ mà không có nó, ta sẽ không có bất cứ ý tưởng nào về thời gian.”
“Mọi ý thức của con người đều có cùng bản chất, tri nhận theo cùng cách, tiến bước theo cùng nhịp độ và trải nghiệm cùng thời độ. Thế mà, chẳng gì ngăn cản ta tưởng tượng ra bao nhiêu ý thức của con người tùy thích, rải xa nhau xuyên suốt toàn bộ vũ trụ, nhưng lại vừa đủ gần để hai trong số chúng kế tiếp nhau, lấy ngẫu nhiên, có chung phần đầu mút của trường trải nghiệm bên ngoài của chúng. Trong hai trải nghiệm bên ngoài này, mỗi trải nghiệm đều tham gia vào thời độ của từng ý thức trong hai ý thức ấy. Và bởi lẽ hai ý thức có cùng nhịp thời độ, hai trải nghiệm cũng phải như vậy. Nhưng hai trải nghiệm lại có một phần chung. Thông qua gạch nối này, vậy, chúng nhập thành một trải nghiệm duy nhất, triển khai trong một thời độ duy nhất, cái mà, một cách tùy ý, sẽ là của một trong hai ý thức.”
Thông tin tác giả Henri Bergson
Henri Bergson (1859-1941) là nhà triết học, nhà văn người Pháp. Năm 1889, ông bảo vệ luận án tiến sĩ về Các dữ kiện trực cảm của ý thức. Năm 1900, ông được bổ nhiệm làm chủ nhiệm bộ môn Triết học Hy Lạp trường College de France. Năm 1914, ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp và trở thành chủ tịch Viện Hàn lâm các khoa học chính trị và đạo đức. Bergson đoạt giải Nobel Văn học năm 1927.
Một số công trình tâm lý học tiêu biểu của Bergson:
- Matière et mémoire (Vật chất và ký ức, 1896)
- L'Evolution créatrice (Tiến hóa sáng tạo, 1907)
- L'Energie spirituelle (Năng lực tinh thần, 1919)
- Les deux sources de la morale et de la religion (Hai nguồn của luân lý và tôn giáo, 1932)
- La pensée et le mouvant (Tư tưởng và chuyển động, 1934)
Thông tin dịch giả
Dịch giả Tiến sĩ Đinh Trần Phương: Hiện là giáo viên vật lý Trường THPT Hà Nội - Amsterdam. Tốt nghiệp Trường Ecole Polytechnique (ĐH Bách khoa Paris) năm 2004. Tốt nghiệp thạc sĩ vật lý lý thuyết Trường Ecole Normale Supérieure d’Ulm (ĐH Sư phạm Paris) năm 2006. Bảo vệ luận án tiến sĩ vật lý hạt cơ bản liên quan đến dự án T2K (Nhật Bản) về dao động neutrino năm 2009. Dạy học ở Trường THPT Hà Nội - Amsterdam từ năm 2010 đến nay.
Sách Thời Độ Và Đồng Thời - Henri Bergson của tác giả Henri Bergson, có bán tại Nhà sách online NetaBooks với ưu đãi Bao sách miễn phí và Gian hàng NetaBooks tại Tiki với ưu đãi Bao sách miễn phí và tặng Bookmark