Giới thiệu sách
Cúc Giậu Đông
Cúc giậu đông - bông cúc nhỏ bé mà quật cường hứng gió ngạo sương bên bờ giậu, di dưỡng cho mình cái cốt cách cứng cỏi, thanh cao, “thà chết đứng còn hơn sống quỳ” của bậc thánh nhân, quân tử. Nhưng Cúc giậu đông lại kể cho chúng ta câu chuyện về cuộc đời một người con gái tài hoa mà bạc mệnh, lấy cảm hứng từ một vụ án oan nổi tiếng trong lịch sử nhà Trần.
Nàng tên Đông Cúc, tự Thu Quân, sinh vào năm Đại Khánh thứ nhất - thời vua Trần Minh Tông, khi triều đại nhà Trần đã đến hồi mạt vận. Câu chuyện được kể theo dòng hồi ức của nhân vật chính – Trần Thu Quân những năm cuối đời, khi chuyện xưa đã thành dĩ vãng. Ngược theo dòng hồi ức, Trần thị đưa ta về những năm niên thiếu ấm êm. Gia đình nàng mấy đời cha ông đều theo nghiệp bút nghiên nhưng thất chí quan trường, không màng sĩ hoạn, chọn lựa lánh xa kinh thành xa hoa, về quê dạy học, bốc thuốc cứu người. Một gia đình đùm bọc, yêu thương, anh em trên dưới thuận hòa, giữ gìn gia phong nền nếp. Phần lớn câu chuyện là những hồi ức đẹp đẽ thuở thiếu thời của Trần thị. Nàng có một gia đình đầm ấm, thanh bần mà yên vui, bốn mùa xuân hạ thu đông trôi như bóng câu qua song cửa, đến tuổi hiểu lễ nghĩa thì được cùng các anh bái thầy học chữ, giỏi múa bút ngâm thơ, có người thương đã hẹn thề kết tóc… Nhưng mộng đẹp sớm tan vỡ, những gì còn lại chỉ là một nếp nhà tường rêu ngói vỡ, người xưa giờ thành cát bụi, Trần thị thân cô thế cô mang theo nỗi nghiệt oan, lênh đênh chân trời góc biển, quyết đòi lại lẽ công bằng…
Với lối kể thong dong như nhấp một chén trà thơm, Cúc giậu đông tưởng như chỉ là một cuốn hồi ký thời thơ ấu tươi đẹp nhưng càng đọc, càng ngẫm, người đọc càng nhận ra những cơn sóng ngầm; “nửa đời như giấc mộng”, “khi bắt đầu quá viên mãn, phải chăng là dự triệu cho sự bất tường”, ký ức càng đẹp, hiện thực càng thê lương. Tác giả đã khéo léo đan cài những tình tiết, ẩn trong từng cử chỉ, lời nói, câu chuyện giữa các tuyến nhân vật, rất tự nhiên nhưng lại có mạch kết nối ngầm, để người đọc từng bước nhận ra mối tai ương như cơn sóng dữ, âm thầm len lỏi rồi cuốn trôi tất cả. Thế sự nhiễu nhương, những âm mưu toan tính chốn hoàng triều đã khiến một gia đình vốn êm ấm thuận hòa phút chốc li tán, trở thành con tốt thí trong vòng xoáy quyền lực và sự hiểm ác của lòng người. Vụ án oan của Huệ vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn – bố vợ của Trần Minh Tông đã kéo theo hơn một trăm người liên can vào cảnh đầu rơi máu chảy. Lịch sử hàng trăm năm sau chỉ còn chép lại vài dòng ngắn ngủi với bao điều còn tồn nghi. Những gia đình như Trần Thu Quân, họ mãi chỉ là những con người vô danh đã vùi thây trong lớp cát bụi của một triều đại đã đến hồi cáo chung, mà Cúc giậu đông, có lẽ là một lời chiêu tuyết sâu lắng của chính tác giả. Ẩn chứa trong những câu văn đẹp như một áng thơ, người đọc chua xót nhận ra nỗi bất hạnh của một đời người, “ấy là muốn làm rất nhiều việc nhưng rốt cuộc không làm được bao nhiêu, Trần Thu Quân ở đây cũng vậy. Từ điểm nhìn của nhân vật, có rất nhiều hạn chế, hạn chế cả về cách nhìn thế cuộc lẫn cách nhìn người, hạn chế liên quan tới thời đại mà cô đang sống, hạn chế do chính bản thân cô mà ra”. Là một người con gái sống trong thời đại cũ, Trần Thu Quân có tài, có học vấn, có sự kiên cường như bông cúc ngậm gió sương cuộc đời, tiếc rằng, dù cô có gắng vùng vẫy đòi lẽ công bằng vẫn có những việc buộc phải nghe theo số phận và thời cuộc an bài, đó không chỉ là bi kịch của một con người, một gia đình mà rộng ra là bi kịch của cả một triều đại. Cảm giác bức bối, bất lực ấy thực sự khiến người đọc khi gấp lại trang sách, vẫn day dứt không nguôi.
Cúc giậu đông còn rất thành công khi đưa người đọc quay ngược thời gian cả mấy trăm năm, cảm nhận được sâu sắc phong khí của thời đại cũ, dự vào lối sống thanh bần mà tinh tế của một gia đình thư hương thời phong kiến, từ thú chơi hoa, ủ rượu, dong thuyền hóng gió trăng đến cách nấu những món ăn truyền thống của người Việt mỗi dịp lễ tết, thú múa bút đề thơ của anh học trò trường quy đến những bậc danh nho, ẩn sĩ … Thấp thoáng trong mỗi trang sách là bóng dáng của những con người sống trong một thời quá vãng, dù vô danh hay hữu danh đều giữ cốt cách thanh cao của bậc quân tử như cây tùng cây bách, cả đời đau đáu một đạo quân thần, “nếu một mai có kẻ tuấn kiệt trong số những người mà ông cha thần giúp đỡ ra khuông phù kim âu, trở thành rường cột, vậy dầu chết cũng chẳng từ.” Tiếc thay:
“Sách Đạo một đời chép chẳng xong,
Nhập cõi hằng mong giải mê mòng.
Trăm năm phù thế đâu là tớ?
Kê vàng một giấc, thảy đều không.”
TRÍCH ĐOẠN
“Lập Đông, thày tôi và anh Phong lại xuống Giáp Sơn. Chuyến này, nhân khi được thư nhàn, tiên sinh Kính Khê mới có thời gian nhận tôi làm học trò, coi như con cháu. Đối với thày tôi, đây là việc còn đáng mừng hơn chuyện tìm được cho tôi một tấm chồng hay.”
“Cơm nước xong xuôi, anh Phong và anh Bách ra sau vườn băm thuốc cho ông. Thày bảo nhà tôi được trời thương, gia đạo yên ổn, con cái giỏi giang ngoan ngoãn nên thể lòng ông xanh, thày tôi thường xách hòm thuốc đi khắp nơi để chẩn bệnh cứu người, không giữ một đồng nào cho mình, còn ở nhà khi nông nhàn, đẻ cũng thường dắt trẻ đến cửa chùa hoặc đạo quán quyên tiền nhang đèn, dầu thắp, những mong trong ngoài êm thấm.”
“Anh Sính giơ tay ra cho tôi dễ mạng áo, tay anh hơi run, trên ngón tay có vết chai do cầm bút. Anh Sính bỗng nhiên nói khẽ: “Tâm duyệt khanh hề, khanh hà như?”
Tôi sững sờ, không trả lời anh ngay, lặng lẽ ngồi mạng lại vết rách.
Việc giữa hai nhà đã được người lớn bàn xong từ lâu, anh Sính lại là người thật thà đôn hậu, có tài hoa. Con người nào phải gỗ đá… Xong xuôi, quay đầu lại vẫn thấy anh Sính đương chăm chú nhìn mình, tôi mỉm cười đáp: “Dữ quân tương tri, nguyệt hạ lão nhân chi công dã.”
“Quay lại sân, anh Vân đang phe phẩy quạt trước lò, trên đó có một nồi nước đương sủi tăm. Tôi đặt bầu rượu con vào trong nồi để hâm nóng. Khí thu lành, châm rượu ấm ra chén, hơi rượu ngan ngát lan tỏa quện hòa với hương quế ngọt thơm khiến người ta thấy trong người thư thái.
Cảnh đời cảnh người, nếu được như vậy mãi, há chẳng khoái ư?”
“Tôi nhìn bóng trăng, buông ba chữ: “Nguyệt vị mãn.” Huyền Khư ông tủm tỉm cười: “Nếu không có sự thiếu khuyết thì sao có được sự viên mãn ngày sau?” Nghĩ tới tao ngộ của mình, tôi cũng cười: “Ngược lại, nếu khi bắt đầu quá viên mãn, phải chăng là dự triệu cho sự bất tường?”. Bấy giờ Huyền Khư ông bảo: “Chốn vũ hóa cũng là chốn không mà thôi.” Đột nhiên nghĩ đến đôi câu: “Dục hoán biển chu quy khứ, thử sinh vị bốc hành tàng.” Tiếc thay thuyền con dễ kiếm, chốn về nơi nao?”
“Thế gian khối người tình si như nàng hồ kia, song việc trên đời mấy khi được hoàn hảo như vậy, những người si tình lại hay gặp kẻ bạc tình. Nhân thế này có biết bao kẻ nên duyên mà lại bạc tình với nhau, cũng biết bao kẻ có tình song lại chẳng có phận, gặp cảnh lênh đênh trắc trở, thậm chí chịu cảnh sinh li tử biệt, chẳng thể gặp lại.”
“Tôi cười: “Bậc cha chú có lòng đoái tới, cháu xin nhận ơn này, song hồi cháu còn nhỏ, thày cháu từng dạy rằng, kẻ quân tử biết việc gì nên làm và việc gì không nên làm, một khi đã làm thì chẳng chợn gì, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Tuy cháu không phải quân tử nhưng cũng mong không thẹn với lời răn.” Lê công lặng đi một lúc lâu. Tất thảy những người còn nhớ tới vụ án năm đó đều hiểu rằng, tuy một vài người liên đới đã được thả ra, tuy tân đế đã lên ngôi, song việc vẫn chưa kết thúc, chỉ khi Quốc phụ được chiêu tuyết thì thảy mới an lòng.”
“Trời tối, chỉ thấy dong nhan lờ mờ của người, anh Sính chạm nhẹ vào ngón út tôi, rồi nhân khi không ai để ý, lồng vào đó một sợi tơ đỏ, thì thầm: “Có như thế thì không sợ lạc mất nhau.” Một bận, tôi hỏi anh: “Nhỡ kiếp sau, ông xanh buộc anh chịu người khác thì sao?” Anh vẫn nhìn tôi đăm đắm, nở nụ cười hiền lành: “Nếu số kiếp bắt anh phải đi trước, anh sẽ theo em. Cho đến muôn năm sau, ta cùng đầu thai chuyển thế, vĩnh viễn chẳng quên nhau.”
Tôi nhắm mắt lại để giữ bình tĩnh rồi chậm rãi giở cuộn vải trong tay ra, bên trong ấy là bảy cây đinh được gọt bằng gỗ thị. Trước khi đưa nó cho tôi, tiên sinh Đạm Hiên vẫn e chợn cho kiếp sau của bậc con cháu. Song dẫu có phải đọa xuống địa ngục tôi cũng chẳng hãi sợ. Đến khi Trần Phẫu nhận ra những gì mình sắp phải chịu thì đã chẳng kịp nữa. Hắn cắn tấm giẻ bị lèn chặt trong miệng đến rỉ máu, chân tay và đầu bị đinh gỗ găm xuống đóng chặt hắn với nền đất. Máu bẩn loang ra tanh rợn óc, thấm rít vào lớp rơm bên dưới. Đầu tôi ong lên, đã chẳng hay mình đang ở chốn nào.
“Thượng hoàng lên tiếng: “Vậy ngươi cho rằng thế nào là hoạn đồ?”
Tôi thưa: “Dùng lời ngay để biện trung gian, dùng khí tiết để gìn nhân nghĩa, chẳng nề thân vì thế nhân, ấy là hoạn đồ mà thần cho là phải. Còn siểm nịnh a dua, chỉ vì muốn lấy lòng vua mà vùi trăm khổ của muôn dân thì có khác nào phường chó lợn ngồi trong triều, gây mưu hại cho xã tắc. Thần cho rằng chúng là mối nguy trước nhất, cần phải tiễu trừ!”
“Hé song cửa sớm, cuộn cao mành, tôi sắp lại thếp giấy rồi chọn một tờ, bắt đầu mài mực. Trước mắt như hiện ra cảnh xuân ngày ấy. Núi non như vẽ, nước sông lặng, trời mây nối nhau dệt thành một thứ màu sắc chan hoà, mà ở trên nền sắc đó là muôn tía nghìn hồng rần rật nhựa sống. Trong khi thưởng hoa, chợt nghe thấy tiếng bước chân khe khẽ vang lên, xa xa vẳng điệu cười sang sảng, ấy là một nhóm nam thanh nữ tú ra ngoài du xuân, trước ngực họ đều giắt một nhành cỏ thơm, tôi lấy làm thú bèn nhắc tiểu đồng dừng chân lại ngắm lâu hơn một chút. Như thể đã trở về Kinh thành mười năm trước, đứng trong sân quan sát mây lành sà xuống, cha mẹ mạnh khoẻ, anh em hiền lương, có người trong lòng kề bên, vui thay.”
“Chẳng gặp được người muốn gặp, chẳng nghe được lời muốn nghe, chẳng nói được lời muốn nói, người có thể tâm sự chuyện trăm năm nay đã vùi thân nơi đất lạnh… Há không phải là chuyện bi ai của cõi này ư?”
“Sách Đạo một đời chép chẳng xong,
Nhập cõi hằng mong giải mê mòng.
Trăm năm phù thế đâu là tớ?
Kê vàng một giấc, thảy đều không.”
“Ông ngoại thần từng dạy con cháu, rằng kẻ sĩ lấy trung quân làm đầu, tất phải dốc sức khi xã tắc cần, mà xã tắc được dựng nên từ trăm họ, rằng dẫu lực ta có mỏng thì cứ làm dần từ những việc nhỏ, ngày sau ắt nên việc lớn. Nếu một mai có kẻ tuấn kiệt trong số những người mà ông cha thần giúp đỡ ra khuông phù kim âu, trở thành rường cột, vậy dầu chết cũng chẳng từ.”
Thông tin tác giả Phạm Giai Quỳnh
Phạm Giai Quỳnh sinh năm 1997. Hiện sống và làm việc tại Hà Nội. Quê quán: Thái Phúc, Thái Thuỵ, Thái Bình. Giải A Cây bút tuổi hồng của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Hoà Bình 2013 - 2015; Giải C cho tập truyện ngắn Nhện, Trịnh và Thiên thu trong đợt xét tặng giải thưởng Văn học Nghệ thuật tỉnh Hoà Bình 2011 - 2016; Giải Ấn tượng cho truyện ngắn Đá đắng, cuộc thi Những làn gió Tây Bắc 2017 - 2018.
Đã xuất bản:
- Nhện, Trịnh và Thiên thu (tập truyện ngắn), 2015.
- Sợi chỉ đỏ kết nối (Tập truyện ngắn), ), 2016.
- Trăng trong Cõi (truyện dài), 2018.
- Của Thần và của Người (tập truyện ngắn), 2021.
- Thánh Địa (Tiểu thuyết), 2023.
- Cơn mưa bên hồ nước bí mật (tập truyện ngắn).
Cùng một số truyện ngắn, tạp văn, phóng sự in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, Sông Hương, Văn nghệ Thái Nguyên, Văn nghệ Hoà Bình, Hà Nội Mới, Người Lao động, Lao động cuối tuần…
Sách Cúc Giậu Đông của tác giả Phạm Giai Quỳnh, có bán tại Nhà sách online NetaBooks với ưu đãi Bao sách miễn phí và Gian hàng NetaBooks tại Tiki với ưu đãi Bao sách miễn phí và tặng Bookmark